Ấn Độ được Mỹ áp mức thuế thấp hơn dự kiến trong cuộc chiến chống lao động cưỡng bức
Mỹ đã công bố một đợt thuế mới áp dụng theo điều khoản 301 của Luật Thương mại Mỹ nhằm vào 60 nền kinh tế bị cáo buộc không kiểm soát nhập khẩu các hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Trong đó, Ấn Độ, vốn từng đối mặt với mức thuế 12,5%, đã được áp mức thuế thấp hơn, chỉ 10%, cùng với 16 nước khác như Canada, Anh, Bangladesh và Pakistan.
Quyết định này xảy ra sau khi Ấn Độ sửa đổi chính sách thương mại nước ngoài vào ngày 14/6, cấm nhập khẩu các sản phẩm sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đại diện thương mại Mỹ Jameson Greer đã nhắc đến thay đổi này khi đặt Ấn Độ vào nhóm chịu mức thuế thấp hơn.
Các nhóm hàng được miễn hoặc chịu thuế theo ngành
Đợt thuế mới không áp dụng cho một số mặt hàng như dược phẩm gốc và điện thoại thông minh. Tuy nhiên, Ấn Độ không nhận được miễn trừ cho ngành may mặc và dệt may như Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia. Ngoài ra, thép, nhôm, đồng và linh kiện ô tô cũng được miễn thuế vì chúng đã chịu mức thuế cao từ 25 đến 50% trong các quy định trước đó của Mỹ.
Theo sáng kiến Nghiên cứu Thương mại Toàn cầu tại New Delhi, khoảng 70% giá trị hàng xuất khẩu của Ấn Độ đến Mỹ sẽ bị ảnh hưởng bởi mức thuế mới này.
Ý kiến chuyên gia về mức thuế và đàm phán thương mại
Ajay Srivastava, nhà chuyên gia thương mại và sáng lập sáng kiến nghiên cứu, cho rằng Mỹ chưa đưa ra được bằng chứng thuyết phục cho mức thuế 10%, và cho rằng đây là cách Washington duy trì rào cản thuế dưới thời Trump hơn là giải quyết vấn đề lao động cưỡng bức chưa được chứng minh tại Ấn Độ.
Tuy nhiên, Uday Chandra, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Ashoka, nhận định rằng mức thuế thấp hơn này là dấu hiệu mang tính biểu tượng quan trọng, góp phần xây dựng niềm tin trong các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra từ tháng 2 năm ngoái.
Bộ Thương mại Ấn Độ cũng bày tỏ thái độ thân thiện, cam kết hợp tác để sớm hoàn tất hiệp định thương mại song phương với Mỹ.
Vấn đề tiếp cận thị trường và lợi thế cạnh tranh là điểm quan trọng trong đàm phán
Các điểm còn tranh cãi gồm yêu cầu của Mỹ về mở rộng tiếp cận thị trường ngành sữa và nông nghiệp của Ấn Độ. Trước những lo ngại này, nông dân Ấn Độ đã tổ chức biểu tình vào đầu tháng này để phản đối tác động tiêu cực có thể xảy ra.
Biswajit Dhar, giáo sư kinh tế tại Hội đồng Phát triển Xã hội ở Delhi, cảnh báo rằng Ấn Độ phải cân nhắc kỹ lưỡng về mức độ nhượng bộ trong đàm phán. Ông nhấn mạnh rằng Ấn Độ cần duy trì lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác khi xuất khẩu.
Bối cảnh thương mại và các cuộc điều tra thuế của Mỹ
Kể từ khi ông Donald Trump tái đắc cử tổng thống, Washington đã thúc đẩy mạnh việc cắt giảm thâm hụt thương mại với các nước khác, một trong những lý do để áp đặt các biện pháp thuế “Liberation Day”. Dữ liệu từ kênh truyền hình nhà nước Doordarshan cho thấy thâm hụt thương mại của Ấn Độ với Mỹ giảm xuống còn 34,41 tỷ USD trong năm tài chính kết thúc tháng 3, từ mức 40,88 tỷ USD năm trước.
Bên cạnh mức thuế 10% vừa ban hành và thuế hiện hành với thép, nhôm, đồng, linh kiện ô tô, Mỹ còn tiến hành một cuộc điều tra khác theo điều khoản 301 về tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, có thể dẫn đến mức thuế khác đánh vào Ấn Độ và 15 nền kinh tế khác.
Quan điểm các luật sư và dự báo tương lai quan hệ thương mại Mỹ - Ấn
Luật sư Russell A. Stamets tại Circle of Counsels (Delhi) cho rằng mức thuế mới là tín hiệu cho thấy Mỹ hy vọng có thể đạt được một thỏa thuận thương mại toàn diện với Ấn Độ. Ông đánh giá đây là một cách để Washington “giữ hoà khí” với New Delhi mà không gây tổn thương nghiêm trọng cho bất kỳ bên nào.
Stamets nhận định rằng hai nước có lợi ích liên kết với nhau và việc một bên phải chịu thiệt nghiêm trọng là điều không khả thi. Thỏa thuận chỉ có thể thành công khi cả hai cùng có lợi.
Ông cũng cho biết những đe dọa thương mại mới như đề xuất áp mức thuế 100% đối với người mua dầu Nga (trong đó có Ấn Độ) từ lưỡng đảng Mỹ khó làm chệch hướng tiến triển trong quan hệ. Mỹ có sự thấu hiểu các nhu cầu năng lượng của Ấn Độ và vai trò của dầu Nga trong việc đáp ứng những nhu cầu đó, như thể hiện qua việc cấp miễn trừ nhập khẩu dầu Nga trong 30 ngày.
Sự bất ổn kinh tế do cuộc xung đột Trung Đông càng thúc đẩy Mỹ và Ấn Độ tìm kiếm một thỏa thuận có lợi. Stamets kết luận rằng Mỹ đang có quá nhiều lợi ích gắn liền với sự phát triển của Ấn Độ và quốc gia này mạnh đủ để thương lượng với sự tự tin, đồng thời không có dấu hiệu cứng nhắc từ cả hai bên.
Đăng ký bản tin QMVN
Nhận tin tổng hợp mỗi sáng - chỉ những bài đáng đọc, không spam.








